Làng tôi xanh bóng tre

xanh bóng tre, văn hóa việt
Nhạc sĩ Văn Cao
Sáng tác: Văn Cao
Trình bày: Tam Ca Áo Trắng

Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu
Bóng cau với con thuyền, một giòng sông.
Nhưng thôi rồi còn đâu quê nhà, ngày giặc Pháp tới làng triệt thôn.
Đường ngập bao xương máu tơi bời, đồng không nhà trống tan hoang.

Chiều khi quân Pháp qua
Chiều vắng tiếng chuông ngân, phá tan nhà thờ xưa.
Làng tôi theo đoàn quân du kích,
Cướp ngay súng quân thù trả thù xưa.
Bao căm hờn từ xa quê nhà, rừng chiều nhớ cánh đồng chiều xưa.
Từ xa quê trông lớp cây già, làng quê còn thấy buồn đau.

Ngày diệt quân Pháp tan,
Là lúc tiếng chuông ngân, tiếng chuông nhà thờ rung.
Làng tôi theo đoàn quân chiến thắng, đánh tan lũ quân thù về làng xưa.
Dân tưng bừng chặt tre phá cầu, cùng lập chiến lũy đào hào sâu.
Giặc chưa tan chiến đấu không thôi, đồng quê chào đón ngày mai.

Làng Tôi

Việt Nam – cái tên được nhắc đến trên bản đồ thế giới không phải từ những điều kiện tự nhiên ưu đãi hay sự phồn thịnh của một quốc gia, hơn hết thảy đây là đất nước được nhắc đến với lich sử đấu tranh anh dũng, kiên cường và lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình độc lập, tự do. Tinh thần ấy, sức chiến đấu bền bỉ ấy đã ghi dấu đậm nét trong các tác phẩm thơ văn và âm nhạc trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Và ca khúc “Làng tôi” của nhạc sĩ Văn Cao là một điển hình thi ca mang sức sống trường tồn của dân tộc với những nét họa sinh động về quãng thời gian chiến đấu gian khổ và chiến thắng vẻ vang như vậy.

Ngay từ tựa đề ca khúc, ai cũng dễ nhận thấy trong tác phẩm này Văn Cao đề cập đến nơi mà sự bình yên luôn ngự trị: làng quê Việt Nam. Và trong những lúc xông pha trận mạc hay những khi cuộc sống bình yên, trong tâm trí bất cứ ai cũng mường tượng ra cảnh thanh bình của làng quê ấy. Và đặc trưng của làng quê mà người ta hay nhắc đến đó là hình ảnh trữ tình với cây đa, bến nước, sân đình, với những lũy tre xanh mát và những cánh cò trắng trên đồng ruộng bát ngát.. Ngoài ra, trong “Làng tôi” còn có một âm thanh mà nhạc sĩ Văn Cao đã nhắc đến xuyên suốt cả tác phẩm, đó là tiếng chuông nhà thờ. Tiếng chuông mà ta bắt gặp ở bất cứ quốc gia, lãnh thổ nào cũng được hiểu như là biểu trưng của sự yên bình và hòa hợp dân tộc. Nói cách khác, ở trong mỗi con người ngoài tình yêu dành cho quê hương, đất nước còn có sự yêu chuộng và cầu phúc hòa bình.
Nơi làng quê hiền hòa ấy cũng như bao làng quê khác, những con người quanh năm chỉ biết đến cày cuốc và niềm vui hội mùa thì giờ đây trong đấu tranh cũng là những con người ấy đã phải tập làm quen với bom rơi đạn nổ, đã biết cầm chắc tay súng mà bảo vệ xóm làng. Trong khi đất nước lâm nguy, mọi sức người đều dồn lên cho mục đích cao cả và hi vọng một ngày mai máu đỏ nhuộm cờ hòa bình. Do đó, bỏ lại sau lưng ngôi nhà mái tranh có người mẹ, người vợ tần tảo, gác lại tình cảm đôi lứa và tình thân gia đình, những người nông dân một thời chân lấm tay bùn nay quyết tâm xông pha chiến trường với chỉ một ý chí nung nấu quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh để giành về độc lập tự do cho Tổ quốc.

Chỉ khi người ta sống trong một giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt cùng sự hi sinh to lớn ấy, giá trị của một tiếng chuông trong buổi chiều tà càng như thôi thúc và giục lòng người tiếp tục sống, chiến đấu. Dù bao đau thương với chất chồng mất mát ra đi, dù hoang tàn, chia ly ở khắp nơi nơi xảy đến, nhưng quyết tâm trung kiên bắt nguồn từ cốt lõi của lòng yêu nước thương nòi, con dân của làng quê xưa vẫn tiếp tục trường kì gian khổ đấu tranh - “bao xương máu tơi bời”…

Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều,
Tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu
Bóng cau với con thuyền, một dòng sông.

Anh dũng và quả cảm, tình yêu đất nước và sức mạnh đoàn kết đó là những phẩm chất mà chính chiến tranh đã tôi luyện nên cho bao người con bước ra từ đồng ruộng. ở trong nhạc phẩm “Làng tôi”, Văn Cao đã không nhắc đến bất cứ con người nào cụ thể mà chỉ lấy hình ảnh ngôi làng tựa như người chiến sĩ kiên cường tự biết chiến đấu và chiến thắng bằng lòng căm hận và niềm hi vọng ngày mai tươi sáng, “giặc chưa tan chiến đấu không thôi”..

Trước khi cho ra đời “Làng tôi”, nhiều người vẫn thường nghe nhạc của Văn Cao với những ca khúc tiền chiến lãng mạn như Thiên Thai, Cung Đàn Xưa, Suối Mơ, Bến Xuân, Thu Cô Liêu,.. Đó là một mảng âm nhạc đa sầu đa cảm của trí tuệ hơn người trong cái gọi là cốt cách thi nhân. Cho đến những nhạc phẩm như Sông Lô, Ngày Mùa cũng được sáng tác cùng thời kì sau 1945, âm nhạc của Văn Cao lại chảy trôi theo một bờ dạt dào giai âm cuộc sống và thời cuộc. Và “Làng tôi” làm lay động lòng người cũng bởi lẽ sự giản dị và chân giả chất chứa trong nó khiến người ta phải cảm, phải đặt mình vào tâm trạng nước mất nhà tan mới thấy hết những mất mát, căm hờn lẫn trong tình yêu quê hương và mong ước giành hòa bình. Dẫu thế, chất nhạc trong ca khúc lại không hề bi lụy, tàn thương nếu người ta chỉ bắt gặp đâu đó lời một bài thơ.

“Làng tôi” viết trên nền giai điệu Valse cung đô trưởng nhưng lại thể hiện được nhiều cảm xúc: từ nỗi đau giằng xé quê hương điêu tàn, biến lòng căm thù thành sức mạnh ý chí; từ việc miêu tả một làng quê tươi đẹp bị chiếm đóng tới hành khúc quân dân chung tay chống giặc. Âm nhạc ấy họa trong bức tranh khá nhiều mảng xanh của lũy tre lượn vòng, của tiếng chuông ngân nga thanh bình và có phần nhiều màu xám ảm đạm của chiến tranh.

Cùng với những Ngày mùa, Mùa xuân đầu tiên,.. Làng tôi là một trong những giai điệu Valse đẹp thu hút sự lắng đọng của người thưởng thức âm nhạc Văn Cao. Sự nhẹ nhàng da diết trong ca khúc này cứ theo dòng chảy thời gian mà lặng lẽ kể về làng quê ấy, với những kỉ niệm xa xưa...

Theo: Huy Hoàng

Vẻ đẹp Việt Nam xưa qua những tấm ảnh màu quý giá

Những thước phim và những bức ảnh quý báu về Vẻ đẹp của Việt Nam xưa.

Trong thập kỷ 1910-1930, nhà tài phiệt người Pháp Albert Kahn đã cử nhiếp ảnh gia tới khắp 5 châu, ghi lại hình ảnh sinh hoạt của người dân các nước. Họ đã đặt chân tới Việt Nam và lưu lại những hình ảnh, thước phim quý hiếm.

Albert Kahn (1860 – 1940) là một ông chủ nhà băng nổi tiếng người Pháp gốc Do Thái. Ông cũng được biết tới là người từ tâm và có đam mê đặc biệt với các vấn đề văn hóa – giáo dục trong giới kinh doanh lúc bấy giờ. Khoảng những năm đó ông cũng đã có mặt tại Việt Nam.

 Đây là một tài sản quý giá bởi ở thời kỳ này người ta vẫn chủ yếu chụp ảnh đen trắng và những tác phẩm ảnh màu dưới đây là những bức hình hiếm hoi ghi lại cuộc sống từ những thập niên xa xôi 1910-1930 bằng những hình ảnh, thước phim màu.



Các bức ảnh ấn tượng của nhiếp ảnh gia Albert Kahn tại Việt Nam trong khoảng những năm 1915 - 1921:



vẻ đẹp việt nam, ảnh đẹp việt nam
Bà đồng (1915)

nét đẹp Hà nội, cầu long biên, vẻ đẹp cổ xưa
Cầu Long Biên (1915)

vẻ đẹp làng quê xưa, vẻ đẹp việt
Các hương chức trong ngày hội làng

Vẻ đẹp làng quê, vẻ đẹp xưa, nét đẹp việt nam
Các hương chức hội bàn công việc

nét đẹp văn hóa, vẻ đẹp việt nam
Quan thống sứ Bắc kỳ bên vợ và 4 người con

vẻ đẹp Vịnh Hạ Long, nét đẹp văn hóa
Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long

vẻ đẹp hà nội, văn hóa truyền thống
Phố Hàng Gai

vẻ đẹp Hà nội, hàng thiếc, vẻ đẹp việt nam
Phố Hàng Thiếc

vẻ đẹp thôn quê, nghê thuật việt nam
Những gánh hàng xén

văn hóa việt nam, nghệ thuât
Ông đồ

vẻ đẹp Hà nội, phố tràng tiền, văn hóa hà nội
Phố Tràng Tiền

Vẻ đẹp miền Bắc, nét đẹp nghệ thuật
Quan Bắc kỳ trong phẩm phục nghi lễ

vẻ đẹp sông Hồng, sông Hồng Việt Nam
Một góc sông Hồng

sông Hồng Việt nam, vẻ đẹp Hà nội
Góc khác sông Hồng

phụ nữ hoa, vẻ đẹp Việt Nam
Người phụ nữ Hoa say thuốc phiện

vẻ đẹp văn hóa, nghệ thuật
Hai quý ông đang say thuốc
nét đẹp phụ nữ, vẻ đẹp việt nam
Phụ nữ Việt Nam

Nghệ thuật Múa rối nước truyền thống

nghệ thuật rối nước, nghệ thuật truyền thống
Nghệ thuật múa rối nước

Từ xa xưa, con người và thiên nhiên luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ cho nhau. Con người đã biết dựa vào thiên nhiên để sản xuất và đồng thời cũng là để sáng tạo ra những loại hình nghệ thuật độc đáo. Miền đồng bằng châu thổ sông Hồng là cái nôi sinh ra nghệ thuật múa rối nước. Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống, một sáng tạo đặc biệt của người Việt. Ra đời từ hơn 10 thế kỷ trước ở vùng châu thổ sông Hồng, loại hình này thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết bằng việc dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Thông qua những tiết mục biểu diễn, du khách sẽ thấy được những cảnh sinh hoạt, đời sống tinh thần và vật chất truyền đời của người nông dân Việt Nam.

Theo nhiều nguồn tư liệu khác nhau, múa rối nước ra đời vào triều đại nhà Lý (1010 - 1225). Theo thời gian, nghệ thuật múa rối nước được truyền từ đời này sang đời khác, dần dần trở thành một thú chơi tao nhã của nhân dân ta trong các dịp lễ hội. Và đến nay, múa rối nước đã trở thành một loại hình nghệ thuật truyền thống trong dân gian, cần được gìn giữ, bảo tồn và phát huy.

So với múa rối thông thường, múa rối nước mang nhiều đặc điểm khác như: dùng mặt nước làm sân khấu; buồng rối nước hay còn gọi là thủy đình với cấu trúc cân đối, tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam là sân khấu biểu diễn trò rối nước.

Ðể làm được một con rối hoàn chỉnh, phải trải qua rất nhiều công đoạn từ đục cốt đến trang trí hóa trang và rất nhiều công đoạn mà người nghệ nhân không thể bỏ qua. Quân rối càng hoàn hảo, càng giúp cho kỹ xảo điều khiển nâng cao, khả năng diễn đạt phong phú. Quân rối nước làm bằng gỗ tốt sẽ nặng và chìm, trên thực tế, gỗ sung là chất liệu thông dụng để tạc con rối, vì loại gỗ này nhẹ lại dai, rất dễ điều khiển trong khi biểu diễn dưới nước.

Sau khi con rối được tạc với những đường nét cách điệu riêng, chúng được đầu óc tinh tế của các nghệ nhân thổi vào luồng sức sống mới bằng cách gọt giũa, đánh bóng và trang trí với nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêm đường nét tính cách cho từng nhân vật, làm cho nhân vật được đặc sắc hơn, trong sáng hơn trước người xem. Quân rối nước chính là sản phẩm của nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian, nó vừa giàu tính hiện thực, vừa mộc mạc, đằm thắm, trữ tình.

Ta có thể gặp ở đây khá nhiều đồ dùng thường ngày của nghề lúa nước mà người nông dân tự làm ra như thừng, sào, vọt... để làm máy điều khiển quân rối. Máy điều khiển rối nước có thể được chia làm hai loại cơ bản: máy sào và máy dây đều có nhiệm vụ làm di chuyển quân rối và tạo hành động cho nhân vật. Máy điều khiển được giấu trong lòng nước, lợi dụng sức nước, tạo sự điều khiển từ xa, cống hiến cho người xem nhiều điều kỳ lạ, bất ngờ khó lý giải. Người nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối. Họ thao tác từng cây xào hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài hoặc dưới nước. Ngâm bùn lội nước để làm nghệ thuật không phải là một công việc bình thường thích thú với mọi người. Nếu không phải là người sống ân tình với nước tới mức "Sống ngâm da, chết ngâm sương" như cư dân trồng lúa nước, thì khó có được sự truyền cảm nồng nhiệt vào hành động của nhân vật rối nước.

nét đẹp truyền thống, tre xanh việt nam
Một cảnh diễn trong múa rối nước
Ngoài ra, một yếu tố không thể thiếu trong chương trình biểu diễn múa rối nước là âm thanh. Trước đây, biểu diễn múa rối nước thường ở sân khấu ngoài trời giữa ao hồ, nên rối nước cần âm thanh mạnh để giữ tiết tấu và khuấy động không khí buổi diễn. Các bộ nhạc, bộ gõ dân tộc thường được sử dụng trong múa rối nước là trống cái, não bạt, mõ, pháo, tù và ốc. Âm nhạc rối nước mang tính hoạt náo của hội hè, có tác dụng mạnh đối với cả người diễn lẫn người xem.

Thông thường, mở đầu cho buổi biểu diễn múa rối nước là sự xuất hiện của chú Tễu với thân hình tròn trĩnh, mặc áo nẹp khuy không cài, vẻ mặt hỏm hỉnh làm nhiệm vụ dẫn dắt, mở đầu câu truyện. Thông qua những tiết mục múa rối, khán giả sẽ được dẫn dắt vào một thế giới tưởng tượng phong phú. Những chú rối rực rỡ sắc màu, nét mặt vui tươi, trình diễn những động tác linh hoạt trên mặt nước, kết hợp với yếu tố âm thanh đặc sắc đã làm nên một nghệ thuật múa rối độc đáo của vùng đồng bằng Bắc Bộ, trở thành một nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu đối với người dân trong các dịp lễ hội từ đời này sang đời khác.

nghệ thuật rối nước, văn hóa truyền thống
Một cảnh khác
Những năm gần đây, múa rối nước không chỉ được biểu diễn khắp cả nước mà loại hình nghệ thuật độc đáo này còn được giới thiệu đến công chúng quốc tế. Năm 1979, tiết mục rối nước “Lân tranh cầu và bắt cầu” lần đầu tiên ra mắt bạn bè quốc tế ở Liên hoan múa rối Vác-xa-va, Ba Lan. Kể từ đó, rối nước Việt Nam có hàng trăm chuyến lưu diễn nước ngoài, tham dự các liên hoan sân khấu quốc tế tại hơn 40 quốc gia trên khắp các châu lục. Hầu hết khán giả nước ngoài từng thưởng thức nghệ thuật múa rối nước cổ truyền Việt Nam đều trầm trồ thán phục bộ môn này. Người Pháp gọi môn nghệ thuật này là “linh hồn của đồng ruộng Việt Nam” và nhận xét rối nước đáng được xếp hạng là “một trong những hình thức quan trọng nhất của sân khấu múa rối”.

Còn ở trong nước hiện nay, gần như trong mọi tour du lịch cho du khách nước ngoài dừng chân tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đều có chương trình xem biểu diễn múa rối nước. Riêng tại Nhà hát múa rối Thăng Long (Hà Nội), trung bình mỗi ngày đã có 5 khung giờ biểu diễn múa rối để người xem lựa chọn và hầu như lúc nào cũng rất đông người xem. Thông qua các tiết mục múa rối nước, khán giả nước ngoài hiểu hơn về cuộc sống, văn hóa và con người Việt Nam, góp phần nâng cao hiểu biết và uy tín của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam, hình ảnh con người Việt Nam trên trường quốc tế.

Có thể nói, múa rối nước là một loại hình nghệ thuật đặc sắc mang đậm bản sắc dân tộc, bao đời qua đã gắn bó chặt chẽ với những tập tục, lễ hội của vùng Bắc bộ. Múa rối nước gần gũi với đời sống thường nhật của người dân, góp phần không nhỏ trong việc truyền bá kiến thức sản xuất, giáo dục tinh thần yêu nước, đạo đức, lẽ sống cho mọi tầng lớp xã hội, xứng đáng là một nghệ thuật độc đáo có một không hai trên thế giới. Hiện nay múa rối nước đang nằm trong danh sách đề cử là di sản văn hoá thế giới.

Trống Đồng Đông Sơn - Văn hóa và xã hội Lạc Việt

trống đồng, văn hóa Lạc việt, xã hội Lạc việt
Trống Đồng Đông Sơn

Trống đồng Đông Sơn là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển. Những chiếc trống này là một hiện vật vô cùng qúy báu, một trong những niềm tự hào sâu sắc của văn minh Việt Nam, nói với chúng ta rất nhiều điều, hoặc sáng tỏ hoặc còn đầy bí ẩn, về cuộc sống và tâm hồn của tổ tiên ta.

Việc phát hiện ra những lưỡi cày đồng và những hình bò được khắc trên thân trống chứng tỏ thời kỳ này đã biết sử dụng sức kéo động vật vào canh tác nông nghiệp. Ngoài ra, các nghề đánh cá, săn bắn, chăn nuôi gia súc và sản xuất thủ công cũng phát triển trong thời kỳ này.

Phần lớn những nơi phát hiện có trống đồng phân bố dọc theo triền những con sông lớn ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Trống có thể đã được phân phối bằng đường thuỷ. Ngoài ra, trong xã hội Lạc Việt còn có tồn tại sự bất bình đẳng về tài sản. Điều này được phản ánh rõ ràng trong sự phân bố những hiện vật tuỳ táng ở các ngôi mộ giàu nghèo thuộc thời đại đồng thau.

  Quan niệm tôn giáo của người Việt cổ: tục sùng bái mặt trời và chim vật tổ

Ngôi sao trên mặt trống đồng là biểu trưng cho mặt trời mà tục thờ mặt trời là một hình thức của đạo sùng bái tự nhiên được phản ảnh rộng rãi trong phong tục tập quán cổ truyền của người Việt. Những hình người hoá trang thành chim trên trống đồng mang ý nghĩa tín ngưỡng vật tổ, mà vật tổ đây là một loài chim. Trong truyền thuyết của người Việt, người Mường có câu chuyện trăm trứng mang ý nghĩa vật tổ.Cuộc hôn nhân Bố Rồng (Lạc Long) - Mẹ Âu (Âu Cơ) phản ánh sự liên kết của hai bộ lạc thờ Rồng và thờ Chim thần. Theo dõi những hình người khắc trên trống đồng, chúng ta thấy những nhân vật chiếm vị trí trung tâm trong các sinh hoạt và nghi lễ thường được hoá trang thành chim, họ tự trang sức mình bằng những chiếc mũ hình chim, hoặc bộ quần áo lông chim, thậm chí những vũ khí, công cụ sản xuất, mũi thuyền, nóc nhà cũng làm theo hình chim, được trang trí hình chim, được trang sức lông chim. Hình ảnh người - chim Việt cổ chẳng những thể hiện một cách có hệ thống trên các trống đồng mà còn thấy trên nhiều thạp đồng, rìu đồng nữa. Chính loài chim bay, có mào, cổ và chân dài, có mặt trên hầu khắp các trống Đông Sơn từ chiếc sớm nhất đến chiếc muộn nhất, giống chim nước gần với loài cò, sếu, vạc ấy là chim vật tổ của người Việt cổ.

Hình ảnh vật tổ Rồng (giao long) giống vật thần thoại kết hợp trong mình nó những nét của cá sấu, rắn nước... thấy khắc trên thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái), trên rìu đồng Đông Sơn, trên mảnh áo giáp đồng tìm thấy ở Hà Nam. Vật tổ hươu (người Mường gọi hươu là mẹ, cá là cha) thấy khắc trên mặt nhiều trống đồng, trên thạp Việt Khê và trên rìu Đông Sơn - Vật tổ cóc (dân gian ta suy tôn cóc là cậu ông trời) cũng thấy trên nhiều trống đồng (Hữu Chung, Đông Hiếu, Đa Bút, Phú Phương, Nông Cống, Thôn Bùi, Chợ Bờ, Đắc Giao, Thôn Mông...) Trong số những con vật thiêng này tách ra một cặp quan trọng đó là cặp Rồng - Chim phản ánh sự kết hợp giữa hai bộ lạc lớn thờ Rồng và thờ Chim, sự hình thành liên minh bộ lạc người Việt cổ lấy tổ hợp bộ lạc Rồng - Chim làm nồng cốt. Cảnh đua thuyền, cảnh hiến tế, cảnh đánh trống, đánh chiêng, giã gạo, múa nhảy thấy trên trống đồng đều là những nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng nông nghiệp, có thể xem đó là cảnh lễ cầu mùa, hội mừng mùa, những ngày hội lễ tiêu biểu của nền văn minh nông nghiệp Việt cổ.

- Trống đồng Đông Sơn còn cho chúng ta những hình ảnh cụ thể về trang phục, về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc, trang trí, nghệ thuật ca múa nhạc của người Việt cổ.

Trang phục

Quần áo được tả trên trống có các loại như : áo hai vạt ngắn, áo hai vạt dài, váy, khố...Họ đội nhiều loại mũ, tết các kiểu tóc khác nhau.

Nghệ thuật kiến trúc

Dựa theo những hình khắc trên trống đồng thấy có 2 loại hình kiến trúc là nhà sàn mái cong và nhà sàn mái tròn. Nhà có 2 cột chống ở phía đầu nhà, hai đầu và ở giữa có kê thang để lên sàn. Nhà mái tròn thường có một người (hoặc không có người) đứng giữa cửa, hai bên của có chắn phên. Nhà mái tròn có thể liên quan đến tín ngưỡng và tạm gọi là "nhà thờ". Còn những ngôi nhà có mái cong như hình thuyền lại có nhiều người có thể liên hệ rằng đó là "nhà ở". Hai góc mái có những đường hồi hoa văn trang trí. Có thể nói nhà sàn là loại hình kiến trúc chủ yếu của người Lạc Việt.

Tượng trang trí

Có tượng hình chó trên mặt trống nhỏ Đông Sơn, tượng cóc trên mặt các trống nhóm C. Hình tượng còn rất sơ lược nhưng nếu so sánh với thời đại hậu kỳ đồ đá mới có nghệ thuật vẫn chỉ là dạng hoa văn minh họa, thì chúng ta mới thấy bước tiến bộ về mặt nghệ thuật cũng như về kỹ thuật điêu khắc ở thời đại đồ đồng.

  Vũ nghệ

Trên trống đồng, những người múa thường được phục trang bằng những bộ quần áo như : mũ lông chim cao hoặc mặt nạ, tay đôi tkhi cầm vũ khí. Mỗi tốp người múa thường có từ 3,4 hoặc 6 đến 7 người. Trong tốp này có người thổi khèn còn những người còn lại biểu hiện theo một động tác thống nhất, chuyển động từ trái sang phải, người sau nối tiếp người trước một quãng đều đặn, tất cả điều hành vòng quanh ngôi sao (mặt trời).

  Âm nhạc

Theo hình khắc trên trống đồng thì thấy có hai loại nhạc khí được sử dụng bấy giờ là khèn và trống. Có hai cách sử dụng trống :

Trống một người biểu diễn như hình người cầm trống trong nhà hay trên thuyền để giữ nhịp.

Trống diễn tấu trong một dàn trống. Người đánh trống ngồi hoặc đứng trên sàn, cầm gậy dài đánh theo chiều đứng. Trống được đặt trên những chiếc giá sát đất. Kiểu đánh này vẫn được nhìn thấy hiện nay ở những ngày hội của đồng bào Mường ở các tỉnh Hoà Bình.

Nghệ thuật tạo hình

Nghệ thuật trống đồng khá độc đáo, đặc trưng bởi kỹ thuật khắc chạm trên khuôn tạo ra những hình ảnh khắc chìm chủ yếu trên mặt trống, còn trên thân trống thì là hình khắc hơi nổi. Nghệ nhân đã xây dựng hình ảnh trong những bố cục tròn trên mặt trống và ô chữ nhật trên thân trống, bên trong loại bố cục này thì hình ảnh được sắp xếp rất cân đối. Hình ảnh con người luôn được dĩen tả theo tư thế động : múa, giã gạo, đánh trống, bơi chải...Về mặt bố cục, tất cả người, động vật đều diễu hành quanh ngôi sao giữa mặt trống. Đặc biệt, phần tạo hình ở đây hơi giống kiểu tạo hình Ai Cập. Ví dụ : tốp người múa trên mặt trống có ngực hướng thẳng về phía khán giả, chân và đầu theo lối nhìn nghiêng. Còn trong hình chim bay thì thân cánh và đuôi được tả theo hình nhìn từ trên xuống, còn đầu thì theo lối nhìn nghiêng.

Những kiến thức khoa học

Kỹ thuật đúc: Trống đồng là một hiện vật khá lớn. Chiếc trống cỡ lớn có đường kính mặt trống xấp xỉ 90 cm, chiều cao trên dưới 60 cm, nặng gần 100 kg, hình thể phức tạp : tang trống phần trên phình ra hình nón cụt, giữa thắt lại hình trụ tròn, phần chân loe ra hình phễu. Để đúc một vật như vậy không hề đơn giản. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng trống được đúc bằng khuôn hai mảnh, rìa mặt trống còn để lại những dấu vết cách đều, đó là dấu vết con kê để căn đều chiều dày thành trống trên khuôn đúc. Để đúc thành công như vậy thì người nghệ nhân phải đạt được hàng loạt các yêu cầu về kỹ thuật như phải có một nhiệt độ cao để nung chảy hợp kim đồng, phải tìm được vật liệu chịu lửa để làm khuôn đúc, phải nắm vững được tính năng hóa lý của mỗi kim loại trong hợp kim đồng, đặc biệt là phải có kỹ thuật đúc với tay nghề thành thạo. Quan sát hệ thống hoa văn dày đặc và tinh xảo trên trống Ngọc Lũ 1 và trống Hoàng Hạ có thể kết luận được xã hội Lạc Việt có những người thợ đúc lành nghề.

Số lượng những cánh sao, động vật, những hình thuyền trong vành hầu hết đều là số chẵn. Điều này chứng tỏ người Lạc Việt đã rất chú ý đến việc tính đếm. Trong số những số lượng cánh sao nổi bật lên là con số 12 (chiếm 46,1% tổng số). Số này liên quan đến số lượng tháng trong một năm.

Các nhóm thuyền khắc trên trống thể hiện sự phát triển về kỹ thuật quân sự của thời này. Trong số 436 người được khắc trên các trống có 175 người cầm vũ khí (40,1%). Các loại vũ khí gồm : giáo, rìu, cung, dao găm và mộc.

Bài viết tham khảo khác:

Trống Đồng Đông Sơn - Dấu ấn của các Vua Hùng

Vua Hùng, Hùng Vương, trống đồng Đông sơn
Vua Hùng

Trống đồng Đông Sơn làm chúng ta liên tưởng đến truyền thuyết người Việt và người Mường. Truyền thuyết "trăm trứng" của người Việt kể rằng Bố Rồng và Mẹ Âu chia làm đôi số 100 người con của mình: 50 con theo cha về biển, 50 con theo mẹ lên núi (tức là địa bàn Phong Châu), cử người con trưởng làm vua lấy hiệu là Hùng, đặt tên nước làVăn Lang, truyền được 18 đời đều gọi là vua Hùng. Truyền thuyết "Trăm Trứng" của người Mường (kể lại trong sử thi "Đẻ Đất Đẻ Nước" ) nói: 50 người con về miền đồng bằng trở thành tổ tiên người Việt; 47 người đi lên miền núi, họ là tổ tiên của các dân tộc miền núi, còn lại 3 người sinh ra từ những trứng đầu tiên: Tá Cài, Tá Cần, và Dạ Kịt. Sau khi anh cả là Tá Cài bị rắn cắn chết, các mường mời Tá Cần lên ngôi vua. Tá Cần lấy bà Chu Bà Chương sinh được 18 con: 9 con trai và 9 con gái. Họ trở thành lang (thủ lĩnh) và chia nhau đi coi giữ các bản Mường.

Qua hai truyền thuyết trên, chúng ta lưu ý đến con số 18. Các sách sử cổ của ta như Việt Nam thế chí, Đại Việt Sử lược, Đại Việt Sử ký Toàn thư...và ngọc phả Hùng Vương hiện lưu trử tại đền Hùng đều nói đến con số 18 đời vua Hùng. Truyền thuyết và phong tục cổ truyền của dân gian ta nhiều lần nhắc tới con số 18: Truyện Bánh chưng bánh giầy kể rằng vào cuối đời vua Hùng thứ 6, vua đã truyền ngôi, khônng phải cho con cả mà là cho con trai thứ 18, tên là Lang Chiêu, người đã làm được và đem dâng vua hai thứ bánh ngon lành và ngụ nhiều ý nghĩa.

Truyện Ông Dóng ghi lại chi tiết: người anh hùng làng Dóng bảo sứ giả của vua Hùng đúc cho ngựa sắt cao 18 thước, với ngựa này Dóng sẽ đi dẹp giặc.

Truyền thuyết về vua Thục An Dương và thành Cổ Loa cho biết vòng trong cùng của thành có 18 u hoả hồi.

Trong tục rước nõn nường phổ biến ở khá nhiều địa phương vùng trung du và miền đồng bằng Bắc Bộ, dân gian xưa mang đi trong đám rước 18 cái nõn và 18 nường (là những vật tượng trưng có ý nghĩa phồn thực).

Con số 18 được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong nhiều trường hợp khác nhau chắc có một vị trí quan trọng trong thế giới quan của người Việt cổ.

Tìm hiểu các trống đồng Đông Sơn, lại thấy thêm một điểm đặc sắc. Đếm kỹ số lượng chim trong các vành chim bay - loại chim được nhiều nhà nghiên cứu xem là vật tổ của người Việt cổ - thì mỗi vành có đúng 18 chim! Một điều rất lý thú nữa là: ở vành chim trên mặt trống sông Đà tìm được trong một bản Mường thuộc tỉnh Hoà Bình, lúc đầu nghệ nhân sơ ý nên chỉ chia vành ra 17 cung bằng nhau, khi khắc trên khuôn đúc đến hình chim thứ 16 thì chỉ còn lại có một đoạn, vì vậy bắt buộc nghệ nhân phải khắc hai hình chim vào đoạn cuối cùng này cho đủ số 18 chim (nếu không làm như vậy thì vành chỉ đủ chỗ cho 17 chim thôi).

Điều này một lần nữa cho thấy ý nghĩa rất quan trọng, rất cơ bản của con số 18 trong đời sống tinh thần người Việt cổ. Phải chăng con số 18 đời các vua Hùng là 18 dòng họ đầu tiên kết hợp với nhau trong liên minh bộ lạc Văn Lang, lấy tổ hợp bộ lạc chim - Rồng làm nồng cốt? Bản thân con số 18 có mặt trên trống đồng, sự hiện diện của 18 chim vật tổ trên các trống đồng cổ nhất, to nhất, đẹp nhất của trống Ngọc Lũ, trống Sông Đà, trống Khai Hoá... phải chăng đó là dấu ấn cụ thể của triều đại 18 vua Hùng, là căn cứ vật chất xác nhận sự tồn tại của thời đại Hùng Vương dựng nước.

Bài viết tham khảo khác:
Trống đồng Đông Sơn - Nét văn hóa của người Việt Cổ

Trống Đồng Đông Sơn - Phân loại trống

trống đồng đông sơn, văn hóa việt nam
Trống Đồng Đông Sơn

Giữa mặt trống là hình ngôi sao, phần nhiều là sao 12 cánh, xen giữa các cánh sao là họa tiết lông công hoặc những đường vạch chéo có hình tam giác lồng vào nhau. Bao quanh các ngôi sao có hình người, vật, động vật và hoa văn hình học. Hoa văn hình học thường thấy là : đường chấm nhỏ, vành chỉ trơn, vòng tròn chấm giữa tiếp tuyến, vòng tròn đồng tâm chấm giữa có tiếp tuyến, hoa văn hình chữ gẫy khúc, hoa văn răng cưa và vạch ngắn song song. Thân trống thường có hình thuyền, hình vũ sĩ, hình một số chim, thú thông thường thì chỉ có hoa văn hình học. Quai trống thường làm theo hình dây thừng bện.

Trống đồng Đông Sơn được phân loại theo sự phân bố của những hình khắc và hoa văn trên trống:

Nhóm A
Tiểu nhóm A1
Gồm 6 trống: Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ, Sông Đà, Khai Hóa, Bản Thôm và Quảng Xương.
Đặc điểm:
Hình khắc phong phú, gồm hình người và động vật, trong đó hình người đóng vai trò chủ đạo
Tang trống khắc 6 chiếc thuyền và ở giữa thân trống có hình võ sĩ đứng trong các ô chữ nhật.
Hoa văn:
Hoạ tiết lông công xen giữa các cánh sao, hoa văn hình chữ gãy khúc và có hoa văn răng cưa

văn hóa việt nam, việt cổ, trống đồng đông sơn
Một góc bề mặt Trống Đồng Ngọc Lũ
Tiểu nhóm A2
Gồm 8 trống: Miếu Môn, Vũ Bị, Đồi Ro, Làng Vạc I, Làng Vạc II, Pha Long, Phú Xuyên và Hoà Bình.
Đặc điểm:
Giống tiểu nhóm A1 là tang trống cũng có cảnh đua thuyền, nhưng số lượng thuyền thay dổi, nhưng trên mặt trống không có cảnh sinh hoạt như ở nhóm A1. Ngoài ra có thêm những động vật kỳ dị như con vật đầu chim, có 4 chân và đuôi dài như đươi cáo hoặc là hình con vật 4 chân, có bờm, đuôi cuộn, mõm há. Thay vào hình vũ sĩ là hình bò hay hình chim.
Hoa văn:
Hoa văn chủ đạo là hoạ tiết tam giác lồng nhau xen giữa các cánh sao và hoa văn răng cưa.
Nhóm B
Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất, gồm 26 trống: Duy Tiên, Yên Tập, Ngọc Lũ II, Phú Duy, Núi Gôi, Việt Khê, Làng Vạc III, Làng Vạc IV, Định Công I, Định Công II, Định Công III, Cửu Cao, Mật Sơn, Thiết Cương, Phương Tú, Pắc Tà, Giải Tất, Bình Phủ, Hà Nội, Hoằng Vinh, Vĩnh Ninh, Đông Sơn I, Đông Sơn II, Đông Sơn II, Đông Sơn IV, Đào Thịnh, Phú Khánh
Đặc điểm:
Hình ngôi sao trên mặt trống phần nhiều là 12 cánh, ngoài ra có một ít là hình sao 8 cánh và 10 cánh.
Vành chim trên mặt trống thường khắc 4 con, một vài trống là 6 con.
Hoạ tiết lông công đã có biến thể, hình tam giác phủ vạch chéo, hình chữ gãy khúc và vạch ngắn song song.
Nhóm C
Gồm 11 trống: Hữu Chung, Đông Hiếu, Đa Bút, Phú Phương I, Phú Phương II, Nông Cống, Thôn Bùi, Chợ Bờ, Đắc Glao, Thôn Mống, Hàng Bún.
Đặc điểm:
Trên mặt trống xuất hiện 4 khối tượng cóc và vành hoa văn hình chim cách điệu bao quanh ngôi sao. Ngôi sao phần nhiều có 12 cánh, vành chim có từ 4 đến 10 con. Trên mặt trống có 6 dạng văn chủ yếu sau: hình tam giác lồng nhau, vòng tròn đồng tâm chấm giữa và có tiếp tuyến, vạch ngắn song song, chữ M lồng nhau, đường gấp khúc liên tiếp tạo thành những ô hình quả trám và hoa văn có hình trâm.
Ngoài ra còn có nhiều trống minh khí có kích thước nhỏ, trên trống lại có rất ít hoa văn trang trí nên không được đưa vào hệ thống phân loại trên.
Tháng 8 năm 2004, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm 80 năm văn hóa Đông Sơn xuất lộ với nhiều hoạt động trưng bày hiện vật, trong đó có việc trưng bày các loại trống đồng Đông Sơn.

Bài viết tham khảo khác:

Trống đồng Đông Sơn - Nét văn hóa của người Việt Cổ

trống đồng Đông sơn, văn hóa việt nam, biểu tượng việt nam
Họa tiết trên mặt Trống Đồng
Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN - 100) của người Việt cổ. Nhiều chiếc trống loại này với quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật, đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật sinh hoạt của con người thời kỳ dựng nước mà người ta vẫn cho là chìm trong đám mây mù của truyền thuyết Việt Nam. Những chiếc trống này trong suốt hàng nghìn năm đã là văn vật tượng trưng cho tinh hoa văn hoá cũng như ý chí quật cường của dân tộc ta. Trong những nghi lễ trang nghiêm cũng như dịp hội hè vui vẻ, tiếng trống đồng trầm hùng vang vọng tạo ra một không khí uy nghi, làm tăng lòng tự hào dân tộc và làm cho kẻ thù phải khiếp sợ.
Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã lưu giữ một số lớn trống đồng Đông Sơn. Cho đến nay, theo các số liệu đã công bố, đây là bộ sưu tập lớn nhất thế giới.

Quê hương của trống đồng Đông Sơn là miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn đã tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đến thế kỷ 6 sau Công Nguyên. Nó là sản phẩm đầy trí tuệ của người Việt cổ. Tổ tiên ta đã vượt lên những khắc nghiệt của thiên nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và sáng tạo hiếm có đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau bản địa, nền văn hóa đồng thau vào loại bậc nhất Đông Nam Á. Và những chiếc trống đồng Đông sơn chính là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển ấy.

Trống đồng Việt Nam có nhiều loại hình, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ trống Đông Sơn mà đỉnh cao là sự hoàn thiện kỹ thuật chế tạo là trống đồng Ngọc Lũ. Trống đồng là biểu hiện tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta - Nhà Nước Hùng Vương. Trống đồng và những hình khắc họa trên trống đã giúp chúng ta ngày nay hình dung được đôi nét về cuộc sống của người Việt cổ ở thời xa xưa ấy. Hoa văn trên trống đồng có nhiều loại, kiểu bố trí hợp lý trên các phần mặt, tang và thân trống. Nó được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích để làm một trong những cơ sở khoa học trong phân loại trống và khắc họa những nét sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa Đông Sơn thời bấy giờ.

Trống Đồng Đông Sơn là một loại nhạc cụ dùng trong các buổi lễ hay khi đi đánh nhau. Trống đồng được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất Việt Nam, như Thanh Hóa (Đông Sơn, 24 trống), Hà Đông (9 trống), Bắc Ninh, Cao Bằng (mỗi tỉnh 3 trống), Hà Nam, Hà Nội, Hoà Bình, Kiến An (mỗi nơi 2 trống), Nam Định, Lào Cai, Sơn Tây, Yên Bái, Hải Dương, Nghệ An, Thủ Dầu Một, Kontum (mỗi nơi một trống). Trống đồng đẹp nhất phải kể đến các trống Ngọc Lũ, Hoà Bình, và Hoàng Hạ.

Giữa mặt trống là hình ngôi sao, phần nhiều là sao 12 cánh, xen giữa các cánh sao là họa tiết lông công hoặc những đường vạch chéo có hình tam giác lồng vào nhau. Bao quanh các ngôi sao có hình người, vật, động vật và hoa văn hình học. Hoa văn hình học thường thấy là : đường chấm nhỏ, vành chỉ trơn, vòng tròn chấm giữa tiếp tuyến, vòng tròn đồng tâm chấm giữa có tiếp tuyến, hoa văn hình chữ gẫy khúc, hoa văn răng cưa và vạch ngắn song song. Thân trống thường có hình thuyền, hình vũ sĩ, hình một số chim, thú thông thường thì chỉ có hoa văn hình học. Quai trống thường làm theo hình dây thừng bện.

Bài viết tham khảo khác:
Trống Đồng Đông Sơn - Phần loại trống
Trống Đồng Đông Sơn - Dấu ấn của các Vua Hùng
Trống Đồng Đông Sơn - Văn hóa và xã hội Lạc Việt

Nét Văn hóa Rối Tế Tiêu

Rối tế tiêu, làng rối, nét văn hóa, văn hóa việt nam, tre xanh
Nghệ nhân làng Rối Tế Tiêu
Làng quê Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức (Hà Nội) có phường rối lâu đời và rất nổi tiếng. Rối cạn Tế Tiêu chuyên diễn các tích tuồng cổ, kết hợp trò leo dây và các trò ảo thuật nên được nhân dân khắp vùng mến mộ. 
Nghệ thuật múa rối ở Tế Tiêu có bề dày hơn 400 năm, nhưng trải qua biết bao thăng trầm của chiến tranh, phường rối có lúc bị tan rã, phải đến năm 1965 mới được thành lập lại. Đứng trước thực trạng ngày càng đi xuống của phường rối, cụ Phạm Văn Bể - người luôn tâm huyết với nghề rối đã quyết tâm phục dựng lại phường rối cạn. Quyết không để môn nghệ thuật mà mình say mê cả đời bị thất truyền, cụ Bể đã thuyết phục con cháu trong họ hàng, trong làng học rối và chơi rối để phục vụ bà con.

Năm 1990, cụ Phạm Văn Bể và các nghệ nhân trong làng đã vực dậy được phường rối Tế Tiêu. Phường rối hồi sinh trong sự ủng hộ nhiệt tình của người dân, sự khích lệ động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi của chính quyền. Sau nhiều năm gián đoạn, món ăn tinh thần mà bà con trong làng mong chờ đã được đáp ứng. Cụ Bể đã tập hợp những người có cùng tâm huyết, góp công, góp của hăng hái chế tác con rối, tập luyện các tích trò cổ cũng như tích trò mang tính tuyên truyền giáo dục. Phường rối ngày một lớn mạnh, được mời tham dự các hội thi, hội diễn trong và ngoài tỉnh. Mỗi dịp vào hội hay lễ Tết, phường rối lại kéo xe ba gác mang rối đi biểu diễn phục vụ bà con trong làng và các huyện, tỉnh lân cận.

Khác với nhiều phường rối ở vùng đồng bằng sông Hồng, dù có thể biểu diễn cả rối nước song Tế Tiêu nổi tiếng hơn cả với các trò rối cạn. Xem các con rối chuyển động uyển chuyển, nhịp nhàng tưởng đơn giản nhưng thực tế để điều khiển được chúng không hề dễ dàng, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có độ tinh tế rất cao từ khâu tạo hình các nhân vật rối; cho đến sự phối hợp “ăn ý” với bạn diễn trong từng tích trò, bởi khán giả rất dễ dàng “bắt lỗi” khi rối được biểu diễn không phải dưới nước. Dù là rối dây, rối que hay thậm chí rối sào thì khi sáng tạo cũng phải đặc biệt chú ý tới việc đẽo gọt, chăm chút phần gương mặt và các khớp chi của con rối, giúp rối cử động linh hoạt dưới bàn tay điều khiển của người nghệ sĩ. Các con rối thường làm bằng gỗ xoan, gỗ mít, được ngâm kỹ dưới nước nên không bị mối mọt, dễ đục đẽo, gọt tỉa trong quá trình tạo hình.

Năm 2001, được Cục Nghệ thuật, Bộ Văn hóa Thông tin ủng hộ, ông Bể đã quyết định phục hồi nghệ thuật rối nước. Ông xây một thủy đình trong nhà để phục vụ biểu diễn. Người đến xem rối nước của ông ngày một đông. Nhiều đoàn khách nước ngoài cũng lặn lội tìm đến Tế Tiêu để xem ông biểu diễn và mua những con rối về làm kỷ niệm. Rối Tế Tiêu vượt làng xã, đến với những hội diễn lớn ở Hà Nội, dự liên hoan quốc tế tổ chức tại Bảo tàng Dân tộc, các triển lãm du lịch làng nghề, các kỳ Festival Huế… Càng đi diễn cụ Bể càng nhận thấy một điều thật kỳ diệu: Không chỉ người làng mê rối mà người thành phố, khách quốc tế cũng mê rối. Vậy là rối tồn tại với tất cả hồn cốt truyền đời của nó.

Không chỉ giữ hồn cho phường rối Tế Tiêu, ông Bể còn là người “truyền lửa” cho những người dân đam mê với môn nghệ thuật này. Hiện nay, với tuổi 86 ông đã có 53 năm gắn bó với nghề rối, "gia tài múa rối" của người nghệ sĩ nông dân này là gần 100 trò diễn cho cả rối cạn và rối nước với hàng nghìn chú rối đủ các kích cỡ được ông tạo nên và gìn giữ như những báu vật.

Rối Tế Tiêu đã hồi sinh, phát triển, đang trở thành một “thương hiệu” lớn mang hồn dân tộc, hồn thời đại.

Thế Hoàng